Trang chủ

Tăng cường giám sát thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường

Ngày đăng : 08/07/2014

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên.

Hoàn thiện văn bản pháp luật

Hiện nay, các vấn đề môi trường toàn cầu, như biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, nước biển dâng, ô nhiễm xuyên biên giới, suy giảm chất lượng nước của các dòng sông lớn, các thảm rừng chung biên giới... ngày càng ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến môi trường nước ta. Nhận thức rõ vấn đề môi trường với phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước sớm quan tâm đặc biệt tới công tác bảo vệ môi trường (BVMT). Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 36 (ngày 25.6.1998) về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, nhiều chính sách, pháp luật về giải quyết các vấn đề môi trường và liên quan đến BVMT được ban hành. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đặc biệt, ngày 23.6.2014, tại Kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi).

Để thực hiện chủ trương, chiến lược đã đề ra, một yếu tố quan trọng là tăng cường giám sát thực thi pháp luật BVMT, trong đó cần nâng cao hơn nữa vai trò, sự tham gia của nhân dân. Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “BVMT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân”.   

Vấn đề được quy định về nguyên tắc tại một số luật. Luật BVMT quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các thành viên của tổ chức và nhân dân tham gia bảo vệ môi trường; giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Cơ quan quản lý nhà nước các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia BVMT”.   

       
Khoản 2, Điều 5 Luật Tài nguyên nước quy định: “Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ tài nguyên nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước; giám sát việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra”.          

Mặc dù đã có những tiến bộ trong nhận thức và chủ trương, pháp luật về môi trường, nhưng trên thực tế hoạt động BVMT còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH bền vững.   

Hoạt động giám sát của QH     

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, QH và các cơ quan của QH đã tiến hành nhiều cuộc giám sát liên quan đến thực hiện pháp luật BVMT như: giám sát việc thực hiện Nghị quyết của QH về Dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng; việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề (năm 2011); việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với BVMT (2012).          

Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường đã đề xuất, chủ động tổ chức các đợt giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về BVMT, như: giám sát về tình trạng ô nhiễm môi trường nước hiện nay (2002); về tình hình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ (2004); việc thực hiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (2006); việc thực hiện chính sách, pháp luật về xử lý ô nhiễm môi trường ở các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp (2007 - 2008); thực hiện chính sách pháp luật về quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (2004 - 2008)...

Hoạt động giám sát tối cao trên đây đã làm cho các cơ quan trong hệ thống chính trị, nhất là Chính phủ, các bộ, ngành và các cấp chính quyền địa phương nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm trong quản lý nhà nước về lĩnh vực BVMT; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về BVMT trong cán bộ, nhân dân; kịp thời sửa đổi bổ sung các quy định về BVMT còn bất cập; từng bước ngăn chặn, phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT.       

Tuy nhiên, công tác giám sát tối cao còn những tồn tại: việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến BVMT chưa được thường xuyên nên chất lượng nhiều văn bản được ban hành còn hạn chế; nhiều quy định được ban hành còn chậm, còn sơ hở hoặc mâu thuẫn, chồng chéo, khó thực hiện. Ví dụ: Luật BVMT ban hành năm 2005, đến năm 2011 mới có Nghị định 29 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 cho phép xuất khẩu và áp dụng thuế suất 0% đối với tài nguyên khoáng sản chưa qua chế biến cũng là nguyên nhân dẫn đến khai thác khoáng sản bừa bãi, gây tổn thất tài nguyên và tàn phá môi trường...        

Nguồn nhân lực cán bộ giúp việc cũng như cơ cấu, số lượng ĐBQH có chuyên môn, am hiểu về pháp luật, về BVMT được bố trí tham gia công tác lập pháp tại các cơ quan của QH còn ít, có phần ảnh hưởng đến kết quả chất lượng giám sát; pháp luật chưa quy định đồng bộ vai trò của Mặt trận và các tổ chức thành viên trong giám sát thực hiện pháp luật về BVMT từ cơ sở, cùng các cơ chế hỗ trợ cần thiết về bộ máy, nhân lực và kinh phí hoạt động, bồi dưỡng kỹ năng; cho đến nay, trong các quy định của Đảng, Nhà nước về “Những điều đảng viên không được làm”, “Những điều cán bộ, công chức, viên chức không được làm” chưa có quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên phải gương mẫu không tham gia sản xuất, kinh doanh, tặng, cho, sử dụng sản phẩm từ các loài động thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ. Vì vậy, việc vận động, ngăn chặn tình trạng săn bắt, giết hại các loài động vật này và chặt phá rừng còn nhiều hạn chế; Việc giám sát thực hiện pháp luật hành chính, hình sự trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT chưa được các cơ quan của QH quan tâm đúng mức nên ảnh hưởng việc răn đe, phòng ngừa các hành vi này trong xã hội.     

Giám sát của HĐND các cấp mờ nhạt           

Thực tế công tác giám sát thực hiện chính sách pháp luật về BVMT những năm qua cho thấy, HĐND các cấp nhìn chung đã phát huy vai trò, trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, trước sức ép tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, hầu hết các địa phương đều phải đối mặt, thách thức với công tác BVMT khi quyết định các dự án đầu tư phát triển kinh tế, như thủy điện, khai thác gỗ, tài nguyên khoáng sản. Những nguyên nhân và hạn chế trong công tác giám sát của HĐND các cấp về thực hiện pháp luật về BVMT ở các địa phương là: chưa có luật quy định về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, trong khi đó đại biểu HĐND các cấp hầu hết là kiêm nhiệm, không có điều kiện đi sâu tìm hiểu các văn bản, tài liệu cần thiết để thực hiện giám sát có hiệu quả lĩnh vực BVMT. Tình trạng cục bộ, nể nang, né tránh của lãnh đạo HĐND các cấp đối với các chủ đầu tư, doanh nghiệp hoặc khi được lãnh đạo cấp trên tán thành. Thực hiện quyền của HĐND trong hoạt động và cơ chế giám sát còn khó khăn; Không ít chính quyền địa phương (trong đó có cả một số HĐND cấp tỉnh) vì nhu cầu “tăng trưởng nóng” và nhiều lý do khác đã ra văn bản không phù hợp với pháp luật BVMT.

Ts Trần Thị Quốc Khánh
Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

Tags :